TÁC GIẢ TUỒNG TỐNG PHƯỚC PHỔ

Ông sinh năm 1902 tại An Quán, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong một gia đình nhà nho, là cháu nhà viết tuồng trứ danh Nguyễn Hiển Dĩnh. Ông được cậu chọn làm thư kí riêng để ghi chép, chỉnh lý các vở tuồng. Năm 18 tuổi, ông sáng tác vở đầu tay Lâm Sanh - Xuân Hương dựa theo truyện Nôm.
Năm 1927, ông gia nhập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, viết bài cho các báo Phụ nữ tân văn, Điện tín... Năm 1930, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau khi tổ chức Đảng ở Sài Gòn bị vỡ, ông bị thực dân Pháp bắt và giam cầm 1 năm. Trong tù, ông sáng tác vở Gương liệt nữ ca ngợi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Năm 1940, cùng với nghệ nhân Nguyễn Lai và Ngô Thị Liễu, ông thành lập gánh hát Tân Thành đi trình diễn nhiều nơi. Thời gian này ông sáng tác nhiều vở, chủ yếu là tuồng tâm lí xã hội và đề tài lịch sử như Guồng tình đẫm máu, Đã không duyên kiếp, Tiếng Phật gọi hồn, Nước mắt gọi hồn... và Lâm Sanh - Xuân Nương, Lục Vân TiênPhạm Công - Cúc Hoa, Kiều Quốc Sĩ, Gương liệt nữ, Mạnh Lệ Quân...
Sau Cách mạng tháng 8, ông cùng với Võ Bá Huân đi vận động thành lập đoàn tuồng để lấy tiền ủng hộ quỹ kháng chiến. Đấy là tiền thân của Đoàn tuồng Liên khu V, nay là Nhà hát tuồng Đào Tấn (Bình Định), nơi ông hoạt động nghệ thuật trong suốt quãng đời còn lại. Ông từng là Ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt  Nam , Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn VIệt  Nam .
Tống Phước Phổ là cây viết hàng đầu của sân khấu tuồng cách mạng. Ông đã viết tổng cộng gần 100 kịch bản tuồng, trong đó có hơn 20 vở tuồng đề tài cách mạng. Những vở tiêu biểu của ông như Trưng Nữ Vương, Quán Thăng Long, Hội nghị Diên Hồng, Cờ giải phóng, Hùm Yên Thế, Bùi Thị Cúc, Bốn nghìn năm họp mặt anh hùng (chuyển thể kịch thơ của Huy Cận), Đứng lên Khuông Mánh, Tam gia Phước... Ngoài ra ông còn chỉnh lý nhiều vở tuồng cổ như Sơn Hậu, Hường môn hội ẩm, Đào Phi PhụngTam nữ đồ vương, Lam Sơn khởi nghĩa, An Tư công chúa, Ngọn lửa Hồng Sơn, Trưng Vương khởi nghĩa, Rừng khuôn mảng, Sao khuê trời Việt... Nhiều học trò của ông cũng là những cây viết nổi tiếng như Nguyễn Tường Nhẫn, Nguyễn Kim Hùng, Trần Hưng Quang, Võ Sĩ Thừa...
Năm 1996, ông được trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Ông mất ngày 31 tháng 8 năm 1991 tại Đà Nẵng, thọ 89 tuổi.

  • NHÀ HÁT TUỒNG NGUYỄN HIỂN DĨNH

    Nhà hát tuồng Nguyễn Hiễn Dĩnh tiền thân là Đoàn tuồng giải phóng Quảng Nam, được thành lập ngày 21 tháng 7 năm 1967 tại khu căn cứ kháng chiến của tỉnh. Sau 3 năm phục vụ tại chiến trường, do y êu cầu phát triển nghệ thuật đảm bảo phục vụ lâu dài, tháng 8 năm 1970, 14 anh chị của đoàn được chọn ra Bắc đào tạo tại trường Nghệ thuật Sân khấu Việt Nam (nay là trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội )

  • DANH NHÂN NGUYỄN HIỂN DĨNH

    Nguyễn Hiển Dĩnh (1853-1926) còn gọi là cụ “Tuần An Quán” đỗ tú tài năm 18 tuổi, làm quan đến chức tuần vũ. Ông sinh tại An Quán huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông vừa là soạn giả đồng thời là thầy dạy nghệ thuật tuồng ở Quảng Nam.