TỪ KINH ĐÔ PHÚ XUÂN NHẠC TUỒNG TIẾN VỀ PHƯƠNG NAM
Tiếng khóc chào đời "oa...oa" của đứa trẻ mới sinh. Tiếng "à ơi" bộc phát để dỗ con nín, đó là tiếng "hát ru" đầu tiên của người mẹ, đã trở thành câu hát đân ca trong nền văn nghệ dân gian của dân tộc ta. Từ các tiếng va chạm thô sơ của thiên nhiên, tiếng hát ru của người mẹ đã thành tiếng ca, tiếng nhạc. Nhạc Tuồng cũng phát sinh từ khúc hát dân ca dân gian mộc mạc và tiếng nhạc rất thô sơ từ nguyên thủy mà nên. Phải qua hàng triệu, triệu năm, một công lao gian khổ và vĩ đại của tổ tiên từ thuở các Vua Hùng, đã nối tiếp từng thế hệ trong công việc dựng nước và giữ nước. Đấy là một quá trình vừa hào hùng, vừa phấn chấn, vừa buồn tủi, phẫn uất trong cuộc vật lộn với thiên tai, địch họa, với những dao động tâm linh, cùng những xung đột nghiệt ngã với cái ác, cái đê hèn giữa người Việt với người Việt. Ấy là một quá trình bền bỉ, từ một câu hát ngẫu hứng, một diễn xướng thơ ca trong một phút thăng hoa nghệ thuật của một vị tiền bối xa xưa trên đồng bằng sông Hồng, sông Mã, sông Gianh, sông Hương, sông Trà, sông Cả... cho đến các vùng Tây Nam đất nước trên bước dừng chân Nam tiến. Rồi nó phát triển theo quy luật của nghệ thuật cho đến khi nghiễm nhiên hình thành một dòng ca nhạc bác học. Hát Bội và nhạc Hát Bội là nghệ thuật truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam, mà người sáng tạo là Tổ tiên của ta". Từ Kinh Bắc đến Thăng Long vào Thanh - Nghệ - Tĩnh, Bình Trị Thiên... Từ nhạc dân gian vào Cung đình và trở nên ca nhạc Cung đình đến Ca Huế, Hát Bội, nhạc Tuồng đã tỏa ra khấp nơi. Ra Nghệ - Tĩnh, Thanh Hóa, Thăng Long rồi trở về trung tâm âm nhạc Huế. Từ Kinh đô Phú Xuân, nhạc tuồng Huế tiến về phương Nam.
Bà Đạm Phương nữ sử (bà nội của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm) đã viết "Lược Khảo về tuồng hát An - Nam" có đoạn: "Nghề hát khởi thủy từ đâu, không thấy lịch sử nói đến, nhưng xét ra từ nhà Trần (thế kỷ XIII) đã có những cách hát như là bạn hát phường chèo cũng mỉa mai như cách hát bội ... Đến khi lưu nhập vào Trung Kỳ thời các tỉnh đường trong như Bình Định, Quảng Nghĩa lại thịnh hành về lối hát kể vè, văn như : Mã Long, Mã Phụng, Bạch Viên, .v.v... chớ không sửa lớp Tuồng như bây giờ... Từ hồi bản triều định bình cõi Nam, mới chế-lễ-tác-nhạc, bày ra những khúc "thái", "xướng", "tán", "tấu phụng"', "phẩm nghi", để khi thiên thu khánh tiết yến diên mà diễn các thứ hí kịch ấy tấn tửu chúc thọ, cách hát có lối "bắt bài bông múa "bát tiên quá hải" múa "bát dật", múa "trình tường", múa "tứ linh", múa "phước lộc thọ", từ đó nghề hát thay đổi rất nhiều, gồm đủ các lối múa hát, mới thành ra một lối hát hoàn toàn".
Năm Định vị (1307) vua Trần Anh Tông thu nhận hai Châu Ô, Rí và đổi là Thuận Châu và Hóa Châu. Ngay từ khi công chúa Huyền Trân tới vùng này đều dã có những sinh hoạt văn hóa - văn nghệ.Ở Huế, hát bội là một sinh hoạt văn hóa thông thường, từ xa xưa các rạp hát ở Cung đình như Duyệt thị đường, Hí trường Cửu Tư Đài, Minh Khiêm đường. Rạp Văn Minh Điện của Hoàng Cao Khải, rạp Cần Chánh Điện của Nguyễn Thân, rạp bà Tuần ở ngoài cửa chợ Đông Ba... Ngoài các Tế lễ lớn trong cung đình, các lễ hội cổ truyền của dân tộc đều có múa, ca, nhạc dân gian như nhạc tế đình, tế chùa, hội mùa, cầu ngư, bã trạo, chèo đưa linh, ca Huế, nói vè, hát sắc bùa, hô bài chòi, hội chọi trâu, đánh vật... đều có nhạc, trống thúc giục gây không khí náo nhiệt, vui tươi, các hình thức chơi thô vụng dần dần được nâng cao, đã từ hình thức đơn giản diễn ở hội đình, từ trải chiếu, lên giàn, thành sân khấu biểu diễn nghệ thuật.
Huế là một trung tâm âm nhạc lớn của Việt Nam. Sân khấu Tuồng đã hình thành từ lâu đời, nhưng thịnh hành và phát triển nhất ở các Vua chúa triều nhà Nguyễn.
Được chúa Sãi, Nguyễn Phúc Nguyên (1618-1634) người kế tục chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1612) giao cho Đào Duy Từ có tài năng mang hát Bội từ Thanh Hóa truyền vào đất Bình Định. Đó là cuộc tiến về phương Nam của Hát Tuồng dầu tiên. Khi Lê Văn Duyệt được vua Gia Long sai vào Tổng trấn thành Gia Định đã đem Tuồng theo vào. Lê Văn Duyệt đã sửa chữa vở Tuồng Sơn Hậu giao cho nhiều gánh Tuồng ở Nam Bộ để hát lễ dầu xuân. Ngày Gia Long làm lễ Hiến Phù (30-11 Nhâm Tuất) đã gọi Đoàn Tuồng ở Thanh Nghệ vào hát ca nhạc tế Thái Miếu ở Thuận Hóạ. Đến thời Minh Mạng (1820-1840), đất nước thanh bình, hát bội được thịnh hành. Năm 1826, Minh Mạng xây "Duyệt thị dường" nằm ở phía đông điện Quáng Minh. Dịp lễ tứ tuần Đại Khanh (1830) cho tuyển lựa những phường tuồng có đào, kép hát hay, những ban nhạc ca vũ nổi tiếng từ Bắc Thành., Thanh Hóa, Nghệ An, Cam Lộ, Trấn Ninh, Trấn Định, Trấn Nam vào Kinh diễn suốt trong .những ngày lễ cùng với diễn viên, nhạc công của Triều đình tại Thự Thanh Bình cho nhân dân xem. Một cuộc giao lưu nghệ thuật từ phương Bắc vào hòa nhập ở đất Kinh Kỳ, cố đô Huế đầy thú vị. Rõ ràng Hát bội và nhạc Hát bội đã giao lưu từ phương Bắc vào Thuận Hóa rồi từ Thuận Hóa đã tiến vào các tỉnh Phương Nam, Nam Bộ - Nhạc Tuồng từ Thuận Hóa tiến vào Phương Nam là từ Đào Duy Từ vào Bình Định, Lê Văn Duyệt vào Nam bộ, Đào Tấn về Bình Định và Nguyễn Hiển Dĩnh về Phủ Điện Bàn (Quảng Nam).
Đào Duy Từ sinh năm 1572, học giỏi, có tài. Năm 21 tuổi, Đào Duy Từ thi hương đậu á nguyên. Bất bình với Chúa Trịnh ông bỏ vào Đàng Trong, phò Chúa Nguyễn, đã mang gánh hát Tuồng của cha vào cùng. Đào Duy Từ đã soạn thảo các vở Tuồng, tập luyện nhiều khúc hát, điệu múa trong cung, ông đem một số bà con của ông, con nhà hát xướng vào làng Tùng Châu, phủ Hoài Nhơn (Bình Định), lập một gánh hát, dạy cho dân vùng nầy hát và hát theo giọng Bình Định, hát không ngắt câu, với tiếng vỉa "ư ử" như lối hát Đàng ngoàị Đào Duy Từ đã có công nghiên cứu soạn thảo Tuồng và tu sửa các vũ khúc, các điệu ca hát ở triều đình Huế lúc bấy giờ.
Sau, có Đào Tấn người lâng Vinh Thạnh, phủ Tuy Phước (Bình Định). Năm Tự Đức thứ 20, ông đậu cử nhân, ham mê Tuồng, biết nhiều vở Tuồng rất giá trị. Đào Tấn dược thăng quan nhiều lần, ông đã làm quan nhiều nơi, nơi nào ông đến là có rạp hát tuồng ở đó. Làm Tri phủ Quảng Trạch, Phủ Thừa Thiên, ở Nghệ An 2 lần (1889-1893) và về Bình Định quê nhà. Lần đi ra Huế nhậm chức, ông ra Nghệ An lần thứ hai nầy có đem theo kép đào hát Bình Định ra tập tành rất đông.
Đào Tấn đã soạn tuồng, diễn tuồng từ cố đô Huế ra Nghệ An, Thanh Hóa, làm Tổng đốc ở Nam - Ngãi, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Đào Tấn làm tổng đốc An Tịnh (Nghệ An) 10 năm, Phủ Quảng Trạch 2 năm và 18 năm làm quan ở Huế, rồi từ kinh thành Huế đưa tuồng về Bình Định, rồi đưa tuồng từ Bình Định ra Nghệ An diễn ở rạp "Như Thị Quan" trong Dinh của ông. Khi 60 tuổi, hưu trí, Cụ về quê tại làng Vinh Thạnh xây dựng rạp .hát và mở trường lấy tên là "Học Bộ Đình" để thường xuyên tuyển chọn, đào tạo các lớp đào, kép, nhạc, ông soạn các vở tuồng để giảng dạy và diễn thường xuyên tại rạp hát trước nhà ông ở Vinh Thạnh và hiện nay tại Qui Nhơn có Nhà hát Tuồng mang tên Đào Tấn của tỉnh Bình Định.
Về sau, có Nguyễn Hiển Dĩnh sinh năm 1858, nhỏ hơn Đào Tấn 9 tuổi, quê ở làng An Quán, Điện Bàn (Quảng Nam). Năm 18 tuổi, đỗ tú tài, được sung quyền tri phủ Điện Bàn, rồi làm tri huyện phủ Tam Kỳ. Vốn là người ham thích hát tuồng từ ngày còn di học, ông đã theo dõi, trao đổi, tập luyện cả múa và hát, ông nắm vững về nguyên tắc của nghệ thuật nói lối, các bài bản, làn. điệu tuồng, cách đánh trống chầu, trống chiến, ông đều thông thạo.
Sau đó, ông đổi vào tri huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi). Một năm sau được trở lại Tam Kỳ (Quảng Nam). Năm sau đó, ông bị triệu về kinh, ông được gặp các nghệ. nhân giỏi như: Đội Phước, Đội Sự trong đội Thanh Bình, ngoài giờ làm việc, ông miệt mài nghiên cứu những vở Tuồng, vai Tuồng, vũ đạo có tính mẫu mực và ông đã nắm chắc được những nghệ thuật tuồng, trở thành người lão luyện, có tài. Ông lại được bổ ra làm bố chánh tỉnh Thanh Hóa. Những năm ở Quảng Trị, ông có một Đội Tuồng, đào tạo lớp diễn viên có tài năng, ngày đêm luyện tập. Trong thành Quảng Trị, ông cho dựng một rạp hát rất lớn, giảm bớt số lính của tỉnh, để thay vào một số diên viên, mỗi đêm dành chầu hát cho nhân dân xem, họ rất hoan nghênh và ủng hộ ông. Ông lại được triệu về Huế làm "thị Lang Hộ Lễ" chỉ lo việc cúng tế cho nhà vua. Được.cơ hội rỗi rãi, ông tiếp tục học hỏi và sáng tác thêm các vở tuồng mới. Nguyễn Hiển Dĩnh đã viết hơn 20 vở tuồng. Năm 1907 ông về hưu, đem cả đoàn Tuồng về làng An Quán, nơi chôn nhau cất rốn của mình.
Tại làng An Quán, ông dựng một rạp hát, làm nơi biểu diễn và đào tạo các thế hệ hát bội. Khi vua Minh Mạng tuần du phương nam đã dược xem tuồng ở Hội An đã nói: "Nghệ thuật ở đây không kém sân khấu đất thần Kinh". Đến năm 1913, ông dựng một Trường hát, sau dời ra Vĩnh Điện. Trường hát là nơi ông tập hợp nhiều diễn viên có tài năng trong tỉnh và nhiều đào, kép ở các tỉnh khác về. Hiện nay ở thành phố Đà Nẵng có Nhà hát Tuồng mang tên Nguyễn Hiển Dĩnh, ở Qui Nhơn có Nhà hát tuồng Đào Tấn, ở Nha Trang có Nhà hát tuồng tỉnh Khánh Hòa, ở thủ đô Hà Nội có Nhà hát tuồng Việt Nam, đó là những nơi tập trung các nghệ sĩ tài năng Hát bội và Nhạc Hát bội. Âm nhạc cổ truyền Huế có hai dòng: Dòng âm nhạc cung đình và dòng âm nhạc dân gian - âm nhạc cung đình Huế có: Nhạc huyền, Đại nhạc, Nhã nhạc, Tiểu nhạc... để phục vụ các lễ nghi trong triều, như: Giao nhạc cho Tế Nam Giao; Miếu nhạc cho tế các Miếu, Đại triều nhạc cho vua quan thiết triều lớn.
Các ban nhạc này dùng nhạc cụ dân tộc hòa tấu các chương khúc sáng tác cho từng phần việc của triều đình.
- Đội đại nhạc trong Tế Nam giao có tới 20 trống chầu, 3 kèn bầu (đại), 5 kèn líu (tiểu), 4 thanh la lớn, 4 thanh la nhỏ, 4 tù và lớn bằng ốc biển, 4 tù và sừng trâu, dùng khi vua lên đàn và xuống đàn.
- Đội nhạc cho Múa trong Cung đình có : Trống cái, trống con, trống cơm, đàn tỳ bà, đàn nguyệt, đàn tam, đàn tranh, nhị, kèn, sáo, mõ, sinh tiền, song loan, chuông, khánh. Múa hát trong cung đình triều Nguyễn, càng về sau càng thu nhỏ dần của Đội Võ Can, đến thời Khải Định đổi thành Ba Vũ, hiện nay ở Huế, có đoàn Ba Vũ hoạt dộng rất tốt. Ngoài Đoàn .Ba Vũ còn có Đoàn nghệ thuật Tuồng truyền thống và Trường trung học văn hóa nghệ thuật Thừa Thiên - Huế có 1 khoa chuyên dạy nghệ thuật Hát bội và Nhạc hát bội.
 Nhạc Hát bội truyền thống có trống chiến, kèn, nhị, thanh la là 4 nhạc cụ đặc trưng. Trống chiến là "đạo diễn tiết tấu", ngày xưa được tôn là "Phó Sư". Trong âm nhạc và ca hát của Hát bội có ngâm, vịnh, xướng, nói lối, hát... Trong hát có các "làn điệu": Bạch, Thán, Nam, Tẩu, Ai, Khách... và các "bài bản" do các nghệ nhân sáng tác thành các điệu "lý" rất phong phú. Trong Hát bội có âm nhạc không lời và âm nhạc có lời... Nhạc rao, dạo và nhạc tòng. Ngoài ra còn có Nhạc cho Thủ (mở dầu), nhạc ra Vĩ (đuôi), nhạc gian tấu... Người nhạc công giỏi là người có ngón dàn linh hoạt, nắm vững các làn điệu, bài bản, chơi theo tùy hứng, có lúc chơi xuất thần, tiếng dàn bay bổng hỗ trợ đắc lực cho diễn viên hát hay, múa đẹp, co giãn, giữ vững tiết tấu. Tiếng kèn, tiếng nhị, thanh la cùng hòa nhịp với trống chiến lúc to, lúc nhỏ, lúc thôi thúc, lúc buồn, lúc vui, lúc giận dữ ... đều thể hiện hài hòa, nhịp nhàng với diễn viên trên sân khấu.
"Dàn nhạc tuồng Quảng Nam, về căn bản giống dàn nhạc tuồng của Bình Trị Thiên và Quảng Ngãi, khác với dàn nhạc Bình Định ở một số điểm. Nhà hát tuồng Đào Tấn hiện nay chịu ảnh hưởng của dòng tuồng Quảng Nam, về nghệ thuật diễn yên, vì khi ở Hà Nội, những anh chị em diễn viên của Bình Định và tuồng Bắc đều trực tiếp được các nghệ nhân thầy của Quảng Nam tham gia bồi dưỡng và đào tạo. Ngược lại, dàn nhạc nhà hát Nguyễn Hiển Dĩnh hiện nay lại đánh nhạc dòng tuồng Bình Định, vì anh em nhạc công ở đây học kèn, trống, nhị với các thầy Bình Định. Đó là kết quả của giao lưu văn hóa theo qui luật của nó. Quy luật đó tạo điều kiện cho ta phát triển. Cũng như trước Cách mạng Tháng Tám có nhiều nghệ sĩ tuồng ở Bình Trị Thiên vào hành nghề .lâu dài cùng với nghệ sĩ Quảng Nam. Một số nghệ sĩ Quảng Nam cũng từng ra tham gia diễn ở Huế. Từ những năm 60, Thanh Hóa kết nghĩa với Quảng Nam, đã thành lập Đoàn tuồng Thanh - Quảng, do nghệ sĩ Trần Đình - Hung, người Đại Lộc (Quảng Nam) làm trưởng đoàn, ông đã huấn luyện cho Đoàn này hát, diễn, vũ dạo, đánh nhạc theo tuồng Quảng Nam.
 Sự giao lưu văn hóa có tính quy luật của nó . Tuồng hát bội, nhạc hát bội luôn luôn gắn liền nhau như môi với răng. Âm nhạc luôn luôn là người bạn đồng hành thân thiết. Tiếng trống chầu, trống chiến, kèn, thanh la rộn rã, hào hùng để Khai Trường, từ lúc mở màn tiếng kèn, tiếng nhị rao, dạo cho Giáo Tuồng, diễn viên Bạch, xưng tên, đến lớp, cảnh... tiếng trống, tiếng kèn theo sát, nâng giọng hát cho diễn viên, giữ tiết tấu nhịp nhàng theo bài bản, từ nói, vũ đạo, đánh giặc, đều có nhạc hỗ trợ đắc lực. Trong tuồng có hát khách hát Nam, Tẩu, Ai, Thán, Ngâm, Vịnh, Xướng, Nói lối... diễn viên từ vua, quan, tướng, hoàng hậu, công chúa, tướng giặc. .. đã lên sân khấu đều hát và nói tuồng thông thạo. Dàn nhạc từ trống, kèn, nhị, thanh la cũng đều chơi thuần thục các làn điệu và bài bản chính của tuồng. Trải qua gần 700 năm, qua các triều đại, qua các vùng đất từ Bấc, Trung, Nam tiếng hát bội và nhạc hát bội có truyền thống lâu dời, đã được đúc kết, sàng lọc, giữ gìn cho đến ngày nay, cái tinh hoa ấy hầu như các nhạc sĩ sáng tác ngày nay không thể thay thế được. Tài nàng và trí tuệ kỳ diệu của tổ tiên đến mức sửng sốt khi gặp những hiện tượng sáng tạo âm nhạc Tuồng chói lọi. Làn điệu và bài bản hát bội là những hiện tượng tâm linh ở trong ta đối với lao động sáng tạo tuyệt vời, thần tuệ của tổ tiên ta. Đối với âm nhạc trong tuồng mà ngay thế giới khoa học âm nhạc phương Tây vần đương đứng ngoài nhìn vào, do chưa biết hoặc do tính bàng quan ngạo mạn truyền thống lâu đời, hoặc một bộ phận của thế hệ này đương ngụp lặn trong làn sóng "tây lai".
Vì vậy, cần phải có bộ phận nghiên cứu khoa học, nghiên cứu sâu sắc cho đến đích tính bác học của hát bội nói chung và nhạc hát bội nói riêng. Nhạc tuồng cũng như hát tuồng, từ thi ca, ngôn ngữ, thổ âm ở từng địa phương, hát và đàn có tính địa phương. Về âm nhạc, phải là người đánh trống, thổi kèn tài ba, người nghiên cứu kỹ, sâu sắc mới phân biệt được trống, kèn ở vùng nào. Ở Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa, Thanh Hóa, Trị Thiên Huế, tuồng Nam bộ, Tuồng Bắc đều có cái chung, nhưng cũng đều có cái riêng, độc đáo của từng địa phương đó. Phân biệt rõ nhất là hát và nhạc của các đoàn tuồng Triều Châu, tuồng Quảng Đông, hát dàn theo bài bản Tàu. Âm nhạc Cung dình, âm nhạc dân gian, âm nhạc Tuồng của Huế rất độc đáo, có âm hưởng và màu sắc của sông Hương, núi Ngự không lẫn vào đâu được.
Từ Phương Bắc, Kinh đô Thăng Long vào Phú.xuân, nhạc tuồng dã tiến về phương Nam, rồi từ phương Nam có sự giao lưu, hòa điệu thành cái chung của nhạc tuồng rất hài hòa giữa các vùng với nhau. Từ Lê Văn Duyệt, Đào Duy Từ, Đào Tấn đến Nguyễn Hiển Dĩnh đều là những người học rộng, tài cao, là những nhà thơ, thâm nho mới viết được tuồng.và. soạn nhạc tuồng. Chính những danh nhân văn hóa này là những người có công rất lớn trong việc mở mang, giao lưu và đưa nghệ thuật tuồng từ Bắc vào Trung, vào Nam và từ Nam ra Trung, ra Bấc. Điều thú vị là các ông "quan Tuồng" từ Lê Văn Duyệt, Đào Duy Từ, Đảo Tấn cho đến Nguyễn Hiển Dĩnh, các ông làm quan ở đâu thì nơi Phủ, Nha, địa phương ở đó đều có rạp hát tuồng và đoàn tuồng của mình đem theo, có bổ sung đào kép ở tại địa phương đó, kể cả khi các ông về nghỉ hưu, đều có rạp hát, trường hát để đào tạo và biểu diễn tuồng cho nhân dân xem. Một việc làm công phu, say mê dể giữ gìn, giao lưu, phát triển, bảo vệ bản sắc nghệ thuật tuồng độc đáo của Việt Nam.
Hàng năm, khắp Bắc - Trung - Nam, những người làm nghệ thuật sân khấu đều long trọng tổ chức Giỗ Tổ vào ngày 12 tháng Tám Âm lịch. Ngày giỗ Tổ thật sự là những ngày hội lớn của những người hát tuồng. Với tình cảm của những hậu duệ "Tôn sư trọng đạo" - "Uống nước nhớ nguồn", đã tổ chức Giỗ Tổ rất nghiêm trang, đầy ý nghĩa, để tưởng nhớ đến các ông Tổ của Tuồng Hát Bội không bao giờ quên.
 

                                                                                        Nhạc sĩ TRẦN HỒNG
                                                                          Tạp chí Non Nước số 19, ra tháng 10-1998
  • NHẠC TUỒNG

    Nhạc Tuồng được hình thành do sự kết hợp giữa âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn của diễn viên trên sân khấu Tuồng. Cũng như các loại hình nghệ thuật khác như cải lương, chèo