THỂ LOẠI, TÁC PHẨM, TÁC GIẢ, NS TIÊU BIỂU

“SƠN HẬU”

“SƠN HẬU”:vở tuồng cổ Việt Nam, khuyết danh, ra đời khoảng nửa cuối thế kỉ 18, sau này được Đào Tấn chỉnh lí. Tích chuyện lấy trong sử sách Trung Quốc. Vua Tề già yếu, sắp qua đời, thái sư Tạ Thiên Lăng chiếm ngôi, hạ ngục thứ phi đang có mang. Võ tướng Khương Linh Tá và Đổng Kim Lân là hai tôi trung đã cứu thứ phi. Chuyện bại lộ, Tạ Thiên Lăng cho quân đuổi theo, Khương Linh Tá ở lại cản đường để Đổng Kim Lân đưa thứ phi và hoàng tử vừa mới sinh chạy trốn. Thế giặc mạnh, Linh Tá chống không nổi, bị chém đứt đầu. Kim Lân bị lạc trong rừng, Linh Tá hiện hồn cầm đèn soi đường cho Kim Lân, đưa được hoàng tử và thứ phi đến thành Sơn Hậu. Đổng Kim Lân củng cố lực lượng và tiếp tục chiến đấu với Tạ Thiên Lăng. Tạ Thiên Lăng bắt mẹ của Đổng Kim Lân làm con tin, nếu Kim Lân phá thành chúng sẽ giết mẹ. Nhờ sự giúp đỡ của bà Nguyệt Hạo, chị gái của Tạ Thiên Lăng, quân của Đổng Kim Lân đã đưa bà đổi lấy mẹ Kim Lân. Cuối cùng, quân của Kim Lân chiến thắng. Hoàng tử lên ngôi vua Tuồng “SH” lời mộc mạc, đại chúng, đề cao chính nghĩa và bản chất tốt đẹp của con người dám xả thân vì nghĩa lớn. Hành động xuyên suốt vở tuồng là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai phái chính và tà, khẳng định lí tưởng thẩm mĩ “thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà”. Xem “SH” không ai quên được tình bạn đẹp đẽ và cao quý của Đổng Kim Lân và Khương Linh Tá, hình ảnh khảng khái của Đổng mẫu trước quân thù. Các mảng trò “Đổng Kim Lân”, “Khương Linh Tá thử Lê Tử Trình”, “Ngọn đèn Khương Linh Tá”, “Đổng mẫu thượng thành”, vv. đã trở thành những trích đoạn cổ điển nổi tiếng trong nghệ thuật tuồng truyền thống dân tộc..
 
"QUẦN PHƯƠNG HIẾN THUỴ"
 
"QUẦN PHƯƠNG HIẾN THUỴ": (tk. “Quần trân hiến thuỵ”), một trong ba pho tuồng hát bội đồ sộ nhất, được sáng tác dưới sự chỉ đạo của triều đình nhà Nguyễn. Gồm 100 hồi, do 3 tiến sĩ (Phan Thanh Giản - người đứng đầu, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Thuật) và 2 phó bảng biên soạn dưới thời Tự Đức. Về sau có thêm các cử nhân tham gia như Trương Gia Ngoạn và đặc biệt là Đào Tấn. Nhân vật chính trong pho tuồng đều lấy tên các loài thảo mộc, vd. Hoa Hồng, Kim Cúc, Dương Tùng, Thuý Liễu, vv. Mỗi tiết mục hoàn chỉnh thường gồm từ một đến ba hồi, mỗi hồi được diễn trong một buổi. Nội dung của pho tuồng diễn biến không theo một cốt truyện kịch nhất định mà gồm nhiều truyện kịch khác nhau gộp lại, nhưng đều có chung một đặc điểm là đưa ra điềm lành, phản ánh sự tốt đẹp (hiến thuỵ). Trong pho tuồng có những tiết mục mang đậm đà tính nhân dân, như hồi “Giải đường Thạch Trúc”.
 

“NGHÊU, SÒ, ỐC, HẾN ”

“NGHÊU, SÒ, ỐC, HẾN” :(còn gọi “Di tình”)
 Vở tuồng đồ nổi tiếng, khuyết danh, đã lưu truyền từ lâu trong dân gian. Nội dung tích tuồng: Ốc nhờ thầy bói là Nghêu gieo quẻ chỉ hướng vào ăn trộm nhà trùm Sò. Ốc đem của trộm được bán cho thị Hến, một gái goá trẻ đẹp. Thầy lí và trùm Sò đến lục soát bắt được tang vật, liền giải thị Hến lên trình quan huyện. Thị Hến làm cho quan huyện và thầy đề mê mệt vì sắc đẹp của mình. Kết quả: trùm Sò mất tiền, thầy lí bị đòn, thị Hến được tha bổng. Kết thúc vở là lớp hài kịch đánh ghen do thị Hến mưu trí bày ra để vạch mặt ba tên chức dịch mê gái: quan huyện, thầy đề (đề Hàn), thầy lí. Tính hài hước châm biếm làm cho vở diễn có sức hấp dẫn từ đầu đến cuối. Vở diễn
  

"VẠN BỬU TRÌNH TƯỜNG"

"VẠN BỬU TRÌNH TƯỜNG": Vở tuồng đồ sộ nhất, mới thu thập được 108 hồi, ra đời dưới triều vua Tự Đức (1847- 83), do nhiều người cùng soạn (Diên Khánh Vương, Đào Tấn, Lê Quý Đồng, Vũ Đình Phương, vv.). "VBTT" nặng tư tưởng tôn quân, lấy trung hiếu, tiết nghĩa làm đạo lí; nhân vật phân ra hai phe chính và tà, lấy tên từ các vị thuốc, có hồi lại lấy tên các loài thuỷ tộc như rái cá, rùa, ba ba, vv. Một số hồi quen thuộc trong "VBTT" như Bạch Đầu Công lăn lửa, Kim Anh Tử gặp Mộc Nữ La, vv. "VBTT" diễn chủ yếu trong cung đình; văn chương được Tự Đức khen là kĩ thuật như thần.

"TAM NỮ ĐỒ VƯƠNG"

"TAM NỮ ĐỒ VƯƠNG":tác phẩm tuồng truyền thống, thuộc loại tuồng thầy, tác giả có thể là Diên Khánh Vương (đời nhà Nguyễn). Bản lưu hành hiện nay do Nguyễn Hiển Dĩnh (1853 - 1926) viết lại, hồi thứ nhất lấy tên "Cưỡi nghé", hồi thứ ba lấy tên "Lăn lửa"; hồi thứ hai do Đào Tấn viết lại lấy tên "Khuê các anh hùng". Nội dung vở tuồng kể về hành động anh hùng của ba người con gái là Tạ Phương Cơ, Bích Hà và con gái Khắc Minh (một viên quan trong triều) nhằm cứu bà Chánh Hậu bị thái sư Triệu Văn Hoán bắt giam. Nhưng tấn kịch chính của vở diễn thuộc về gia đình Tạ Ngọc Lân - cha của Phương Cơ. Hai cha con lọt vào triều đình và Tạ Ngọc Lân đã giết người con trai phản nghịch là Kim Hùng tay sai của Triệu Văn Hoán. Ông ôm con để cùng chết thiêu trong lửa cháy doanh trại do ông lập kế gây nên.
Vở tuồng có nhiều tình tiết gay cấn, hình tượng đẹp, văn chương điêu luyện; nhiều đoạn diễn có giá trị nghệ thuật mẫu mực như Phương Cơ giả dại, Tạ Ngọc Lân lăn lửa, vv. Năm 1961, vở diễn được Ban Nghiên cứu Tuồng do Hoàng Châu Ký chỉ đạo soạn lại thành vở diễn một đêm lấy tên là "Ngọn lửa Hồng Sơn", giải Huy chương Vàng trong Hội diễn toàn quốc năm 1962.

SÂN KHẤU CUNG ĐÌNH

SÂN KHẤU CUNG ĐÌNH :hình thức sân khấu biểu diễn trong các triều đình phong kiến, nhằm mục đích tiêu khiển cho tầng lớp vua quan và quý tộc; khác với hình thức sân khấu dân gian, là sân khấu phục vụ trực tiếp đông đảo nhân dân lao động. Phần lớn tác phẩm của SKCĐ đều chịu những quy định khắt khe, nghiêm ngặt cả về nội dung lẫn hình thức, nên thường có nội dung sáo mòn và cứng nhắc, nói chung đều thuộc loại mua vui, giải trí; hoặc tuyên truyền cho các nguyên tắc đạo đức kỉ cương, phong kiến. Nhưng một số nghệ sĩ lớn đã thoát khỏi sự ràng buộc ấy, tạo nên được những tác phẩm có giá trị cổ điển.
Ở Việt Nam, tuồng cổ cũng là một hình thức SKCĐ, đặc biệt phát triển dưới thời Tự Đức; trong đó có những tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao như một số vở của Đào Tấn.
 
 

TUỒNG XUÂN NỮ

TUỒNG XUÂN NỮ: hình thức chuyển các điệu nói lối của nghệ thuật hát bội gần với cách nói lối của nghệ thuật cải lương có đệm bằng điệu nhạc xuân nữ. Nhạc xuân nữ có tình điệu êm dịu, vốn có trong dàn nhạc tuồng cổ và chỉ sử dụng trong một vài trường hợp, nay được sử dụng phổ biến và được cải cách trong nghệ thuật nhấn nhá. Từ cơ sở đó, các điệu hát nam cũng chuyển theo âm hưởng nhạc xuân nữ, do đó có tên TXN. TXN hình thành ở Sài Gòn do gánh hát của ông bầu Sòn khởi xướng. Về sau lan dần ra các nơi khác của Nam Bộ, Trung Bộ và Bắc Bộ. Đề tài chủ yếu là nói về tình yêu cá nhân như các vở "Gươm tình đẫm máu", "Tội của ai", "Ai lên phố Cát", "Lời trăng thề", vv. Cấu trúc kịch bản của TXN thay đổi theo kiểu màn, lớp của kịch phương Tây. Về biểu diễn, đã sử dụng nhiều phương tiện và ngôn ngữ sân khấu mới: phông màn, đấu kiếm, đấu dao găm, hoá phép thần thông, vv. Một số nghệ sĩ không theo khuynh hướng nghệ thuật này, nhưng vẫn dùng kiểu hát xuân nữ trong các vở tuồng cổ để chiều theo thị hiếu của người xem lúc đó.

TUỒNG VĂN

TUỒNG VĂN: loại tuồng truyền thống không có chiến trận, thường lấy đề tài là sinh hoạt của xã hội phong kiến. TV không có nhiều so với tuồng võ. Điển hình là các vở: "Hoa trì mộng", "Hải đường Thạch Trúc", "Thất hiền quyến", "Kim Thạch kì duyên", "Lý Ân - Lan Châu", vv.

TUỒNG VÕ

TUỒNG VÕ: loại tuồng có chiến trận, thường có nội dung kể về sự tranh giành giữa hai phe trung và nịnh, biểu hiện sự bảo vệ hay thoán nghịch một triều vua. TV là loại tuồng cung đình, các nhân vật chủ yếu là vua quan, hoàng th ân quốc thích. Vd. “Sơn hậu”, “Tam nữ đồ vương”, Giác oan”, “Đào Phi Phụng”, vv.

TUỒNG TIỂU THUYẾT

TUỒNG TIỂU THUYẾT:loại tuồng ra đời trên cơ sở phát triển của dòng tuồng tâm lí xã hội (khoảng 1935 - 45), phản ánh cuộc sống đương thời dựa trên các tiểu thuyết được viết dưới dạng truyền kì và được đông đảo khán giả thành thị ưa thích. Đứng về mặt nghệ thuật, TTT tương đối hoà hợp hơn với phong cách xuân nữ; khác với tuồng cổ, là loại tuồng ít hoà hợp với phong cách này. Kịch bản TTT có những phần lời viết bằng văn xuôi giống trong kịch nói. Các vở tiêu biểu chuyển thể từ tiểu thuyết: "Lan và Điệp", "Ai lên phố Cát", vv.

TUỒNG THẦY

TUỒNG THẦY: loại tuồng truyền thống được coi là mẫu mực về nghệ thuật viết, đặc biệt về nghệ thuật biểu diễn tuồng, khác với tuồng cương, tuồng đồ bởi tính cổ điển, tính bác học của nó. TT còn được phân ra: tuồng truyện, tuồng võ, tuồng văn, tuồng pho (tích dài diễn trong nhiều đêm), tuồng ngự (diễn vua xem), tuồng cung đình.

TUỒNG PHO

TUỒNG PHO: Những vở tuồng được sáng tác dựa theo các pho truyện cổ của Trung Quốc như "Chinh Đông", "Chinh Tây", "Tam Quốc Chí", vv. Gồm nhiều hồi nối tiếp nhau theo cốt truyện được kể, mỗi hồi diễn trong một đêm.

TUỒNG ĐỒ

TUỒNG ĐỒ: loại tuồng mang đậm tính dân gian; lấy đề tài và tích truyện từ cuộc sống thôn xã Việt Nam. Chữ "đồ" trong TĐ lấy ở những từ "đồ ngôn", đồ thuyết". Tiêu biểu cho TĐ là loại tuồng hài, thiên về châm biếm, đả kích. Không bị ràng buộc vào những điển luật nghiêm ngặt như tuồng thầy, ngôn ngữ mộc mạc, bình dân; lối diễn tự do, ít khoa trương cách điệu, gần gũi với cuộc sống bình thường. Do đó, có người coi TĐ như một dạng "kịch nói dân tộc". Đến nay, đã sưu tầm được khoảng 40 vở TĐ, những vở quen thuộc như "Nghêu, Sò, Ốc, Hến", "Trương Ngáo", "Trương Đồ Nhục", "Thằng Lãnh bán heo", vv.
 

TUỒNG LỊCH SỬ

TUỒNG LỊCH SỬ: loại tuồng được sáng tác về đề tài lịch sử Việt Nam. Các nhân vật chính trong mỗi vở là những nhân vật có tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của một giai đoạn lịch sử. Vd. các vở " Trưng Nữ Vương", "Sao Khuê trời Việt", "Trần Bình Trọng", "Quang Trung", vv.

TUỒNG CUNG ĐÌNH

TUỒNG CUNG ĐÌNH:loại tuồng về đề tài cung đình, các nhân vật chủ yếu là vua quan, hoàng thân quốc thích. Loại tuồng này thường có một chủ đề "vua băng, nịnh tiếm" (vua chết, gian thần lên ngôi hoặc lộng quyền, mưu sát hại người trung...) sau đó là sự tranh giành giữa hai phe trung và nịnh, kết cục phe trung thắng, khôi phục lại triều vua cũ. Nhiều vở tuồng truyền thống thuộc loại này, vd. "Sơn Hậu", "Tam nữ đồ vương", "Đào Phi Phụng", "Đinh Lưu Tú", "Mã Phụng Cầm", "Giác oan", vv.

TUỒNG BẢN

TUỒNG BẢN: Văn bản tuồng của những vở tuồng truyền thống, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Phần thơ ca thường viết bằng chữ Hán (trừ những vở tuồng đồ), vd. các thể thơ 4 câu 5 chữ; 4 câu 7 chữ; 8 câu 7 chữ; thể phú và những dạng biến đổi của các thể thơ trên (2 câu 3 chữ, 2 câu 7 chữ, vv.). Phần văn vần (văn biền ngẫu) và văn xuôi chủ yếu viết bằng chữ Nôm. Phần chữ Nôm chiếm tỉ lệ lớn hơn phần chữ Hán trong mỗi vở tuồng.

VAI TUỒNG

VAI TUỒNG:  Nhân vật trong một vở tuồng, có nét vẽ và màu sắc vẽ trên mặt khác nhau để biểu lộ tính cách hoặc nghề nghiệp nhất định (vd. vai kép có kép đen, kép đỏ, kép xanh, vv.). Trong tuồng truyền thống, đã định hình nhiều loại vai như: văn - võ, trung - nịnh, kép - đào, lão - mụ, vv. Mỗi loại vai lại được phân chia nhỏ hơn (vd. vai văn - võ, có: lão văn - lão võ, kép văn - kép võ, quan văn - quan võ) và có một số hình thức biểu diễn riêng.
 
 
VAI TRUNG: Là loại vai trong sân khấu tuồng truyền thống, thường là vai đóng các quan trung nghĩa trong một triều vua. VT còn chỉ tổng quát những nhân vật trung nghĩa bảo vệ một triều vua, để chống với phe thoán nghịch, phe gian nịnh. Cách diễn, hoá trang, phục trang các VT thường thể hiện cái đẹp trang nghiêm, đĩnh đạc. VT thường hoá trang mặt đỏ, râu ba chòm, khí phách lẫm liệt, uy nghi, vd. vai Triệu Khắc Thường, Đổng Kim Lân, Khương Linh Tá trong vở tuồng "Sơn Hậu".
 
VAI NỊNH: Là loại vai nam trong sân khấu tuồng truyền thống, thường là các vai gian thần trong một triều vua, chống lại phe trung nghĩa. Có tính chất gian nịnh ở mức độ khác nhau và do đó cách diễn cũng khác nhau, như nịnh gốc, nịnh mụt... tuỳ theo mức độ gian nịnh nhiều hay ít. Tuy nhiên cách diễn, hoá trang, phục trang của các VN thường thể hiện vẻ ngoài thô lỗ với bộ dạng xấu xí, mặt mốc, râu còi cọc, vv.
VAI MỤ:  Là loại vai nữ nhiều tuổi trong sân khấu tuồng truyền thống. VM phân ra mụ lành, mụ ác; có khi là mẹ một viên quan, như Đổng mẫu trong vở tuồng "Sơn Hậu"; có khi là một người phụ nữ bình thường như mụ Hán trong vở tuồng "Nghêu, Sò, Ốc, Hến". Ngoài đặc điểm chung kể trên, VM còn được diễn khác nhau tuỳ thuộc vào tính cách nguồn gốc, nghề nghiệp của từng nhân vật.
VAI LÃO:  Là loại vai nam nhiều tuổi trong sân khấu tuồng truyền thống. Có thể là lão quan (lão văn, lão võ) trong triều, cũng có thể là những người dân thường (như vai lão say, lão ngư, lão tiều), vv. VL có cách diễn, hoá trang, râu tóc riêng, đồng thời cũng thể hiện cả tính cách, nguồn gốc, nghề nghiệp. Có các loại VL: Lão văn, thường là nhân vật chính diện trong các vở tuồng; là ông già quan văn trong triều, tính cách điềm đạm, nhẹ nhàng và thường cơ mưu hơn lão võ. Lão võ, thường là nhân vật chính diện; là quan võ đã già, quen nghề chiến trận, tính cách nóng nảy, ít cơ mưu; vd. Phàn Định Công trong "Sơn Hậu". Lão pha, là nhân vật vừa có tài văn vừa có tài võ, mặt hoá trang hai màu đỏ và trắng nhạt, dáng đi và động tác múa cứng cáp hơn lão văn, mưu trí, dũng cảm; vd. vai Lý Khắc Minh trong "Tam nữ đồ vương". Lão tiều, là nhân vật làm nghề đốn củi (tiều phu) trong rừng, thường là ông già. Lão ngư, nhân vật làm nghề câu cá hoặc chài lưới trên sông, thường là ông già. Lão đen, nhân vật mặt hoá trang hai màu đen và trắng nhưng màu đen đậm hơn, quanh mắt có vòng tròn màu đen, tính cách trung thực, vũ dũng; vd. vai Tạ Ngọc Lân trong "Tam nữ đồ vương"
VAI ĐẦU TUỒNG: Là vai diễn trong một màn trình diễn ngắn trước khi vở tuồng chính trong đêm được bắt đầu. Màn diễn này có thể là một trích đoạn mang tính thời sự cập nhật, hoặc mang tính trào phúng, hài hước; do một hoặc vài diễn viên diễn cương, không theo một kịch bản có sẵn. Nơi diễn gọi là màn đường, ngoài màn che sân khấu.

 
NGHỆ SỸ TUỒNG TIÊU BIỂU CỦA QUẢNG NAM ĐÀ NẴNG


NGUYỄN HIỂN DĨNH

Tác giả: Sân khấu NGUYỄN HIỂN DĨNH: (tự: Tố Tâm; 1853 - 1926), soạn giả đồng thời là thầy dạy nghệ thuật tuồng của Việt Nam. Quê: xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông đã viết và soạn lại trên 20 vở tuồng, nội dung phản ánh chân thực xã hội nông thôn Việt Nam thời thực dân phong kiến, lời văn bình dị, ít từ Hán Việt, sử dụng thuần thục tục ngữ ca dao, thể hiện rõ tài năng châm biếm xã hội của tác giả. Người đương thời đánh giá Nguyễn Hiển Dĩnh là người tạo dựng được phong cách nghệ thuật tuồng độc đáo, nhiều luận điểm về nghệ thuật tuồng truyền thống của ông được các thế hệ làm nghề chấp nhận và phát huy. Tác phẩm: “Lý Mã Hiền”, “Phong Ba Đình”, “Võ Hùng Vương”, “Lục Vân Tiên”, “Trương Đồ Nhục”, “Giáp kén xã Nhộng”, ...

Thời kì làm án sát tỉnh Quảng Trị, ông lập gánh hát. Sau khi từ quan, về quê lập trường dạy nghề diễn tuồng đồng thời tổ chức biểu diễn và sáng tác. Đã đào tạo được nhiều diễn viên tuồng xuất sắc: Nguyễn Nho Tuý (Đội Tảo), Nguyễn Lai, Chánh Đệ, Chánh Phẩm, Văn Phước Khôi...

NGUYỄN NHO TUÝ

Nghệ sỹ biểu diễn NGUYỄN NHO TUÝ : (1910 - 1983 còn gọi Đội Tảo; hiệu: Hàm Quan; bí danh: Thuần Chi; lúc trẻ còn có tên là Kép Thủ), nghệ sĩ tuồng xuất sắc của Việt Nam. Quê: tỉnh Quảng Nam. Sinh trưởng trong gia đình có truyền thống là diễn viên tuồng cung đình dưới triều nhà Nguyễn. Có giọng hát tốt, ham học hỏi. Ông được cha dạy diễn tuồng từ lúc 13 tuổi. Năm 14 tuổi, đóng vai Hồ Nguyệt Cô, một vai tuồng truyền thống rất khó đóng trong vở “Võ Tám Tư trảm Nguyệt Cô”. Năm 15 tuổi, vào học trường hát tuồng của Nguyễn Hiển Dĩnh, tham gia diễn các vai như đào chiến, đào trào, đào phiên, vv. Năm 23 tuổi, luôn diễn các vai kép, điêu luyện trong nghệ thuật sử dụng đôi hia và cây giáo, được tặng danh hiệu “Con rồng vàng trên sân khấu”. Năm 28 tuổi, được cử làm phó ca và là người đóng kép giỏi trong “Ngũ mĩ” (5 người diễn tuồng giỏi nhất) của tỉnh Quảng Nam. Các vai diễn xuất sắc: Địch Thanh, Đổng Kim Lân, Quan Công, Tạ Ngọc Lân, Ngạn Quang, vv. Đã diễn thành công vai ông Bảng trong vở “Chị Ngộ” (của Nguyễn Lai), một vở tuồng về đề tài hiện đại. Sau hoà bình (1954) tham gia giảng dạy, đào tạo nhiều thế hệ diễn viên tuồng. Nghệ sĩ nhân dân (1984).

NGHỆ SỸ NGUYỄN LAI

Nghệ sỹ Nguyễn Lai sinh ngày 02/7/1902 tại làng An Quán nay thuộc xã Điện Minh huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình nhà nho.Ông nội, bác ruột và ông thân sinh đều đỗ đạt và làm quan nhỏ dưới triều Nguyễn. Ông thân sinh của NS Sáu Lai ( Cụ Nguyễn Hiển Phồn) lập gánh hát, bà con thường gọi là gánh Ông Bầu Ban. Bác ruột là cụ Nguyễn Hiển Dĩnh cũng lập gánh hát. Nhưng cả Cha và bác đều không muốn cho con cháu theo nghề.

Với lòng say mê nghệ thuật ông đã xin khéo để được đi theo gánh hát với vai trò người nhắc Tuồng và lén học vai. Tuy nhiên dáng vẻ ông có nhiều hạn chế, hát thì lại bị chênh (phô) khó nghe. Không hề nhụt chí, ông tập trung vào khổ luyện, mãi rồi cũng được đóng một số vai phụ, đóng thế cho người đau ốm đột xuất. Thấy cháu ham nghề cụ Nguyễn Hiển Dĩnh lúc này mới thổ lộ "Bác cũng muốn hát lắm nhưng không thể làm được, cháu làm được thì cứ làm". Ở đời làm nghề gì cũng được, miễn là thường tâm bất thất . Không làm việc gì gian dối thì không có gì đáng xấu hổ"...Năm 1952 tham gia đoàn Tuồng giải phóng, chỉnh sửa nhiều vở tuồng, viết vở tuồng " Chị Ngộ" được trao giải thưởng Phạm Văn Đồng năm1954, nổi tiếng với các vai Thái sư, Nịnh, Tướng lác. Tham gia giảng dạy nhiều thế hệ diễn viên Tuồng cho cả nước. Cụ Tống Phước Phổ, người bạn nghề tri kỷ nói về cụ Sáu "Một phần trăm của thiên tài mà đã thành thiên tài" Trải qua 60 năm hoạt động nghệ thuật, phục vụ sự nghiệp văn nghệ của nhân dân của Đảng Năm 1960 được tặng thưởng Huân chương Lao động. Ông đã được Nhà nước phong danh hiệu Nghệ sỹ nhân dân năm 1984.

NGÔ THỊ LIỄU

Nghệ sỹ biểu diễn NGÔ THỊ LIỄU:  (1905 - 1984), nữ nghệ sĩ tuồng xuất sắc. Quê: thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị do đó được đặt tên là Ngô Thị Trị. Khi đi học được thầy đặt tên là Ngô Thị Liễu. Năm 13 tuổi đã diễn vai Bạch Xà trong vở tuồng “Thanh Xà - Bạch Xà”. Cuộc đời có hơn 60 năm gắn bó với nghề diễn tuồng, có nhiều vai diễn xuất sắc; các loại vai đào: đào cảnh, đào bi, đào chiến, đào giả trai, vv.; các vai mụ: bà huyện (“Nghêu, Sò, Ốc, Hến”), Tuyết Nương (“Trương Đồ Nhục”), vv.; các vai kép con, vai hoàng tử: Triệu Hùng Nhi (“Dương Châu Tư”), Na Tra (“Phong thần”), Thiên Tường, Thiên Lộc (“Hoàng Phi Hổ”). Ngoài 60 tuổi bà vẫn thành công trong vai kép con Quách Hải Thọ (“Bao Công tra án Quách Hoè”), đặc biệt là trong những vở tuồng hiện đại: Chị Lan (“Cờ giải phóng”), chị Ngộ trong vở tuồng cùng tên. Từ 1954, bà tham gia giảng dạy, đào tạo nhiều thế hệ diễn viên tuồng trong đó có nhiều nghệ sĩ ưu tú. Nghệ sĩ nhân dân (1984).

NGUYỄN PHẨM

Nghệ sỹ biểu diễn NGUYỄN PHẨM : (tên thường gọi: Chánh Phẩm; 1900 - 1990), diễn viên tuồng của Việt Nam. Quê: huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Gia đình ba đời nổi danh trong nghệ thuật biểu diễn tuồng, là nghệ sĩ có học vấn rộng, tài nghệ cao, với giọng hát đặc biệt thuộc loại nam cao, vang và ấm. Vào nghề trong gánh hát của Nguyễn Hiển Dĩnh; đóng xuất sắc các vai kép chính trong các vở tuồng thầy như Kim Lân trong “Sơn Hậu”, Hoàng Phi Hổ (“Hoàng Phi Hổ phản Trụ đầu Chu”), Địch Thanh (“Ngũ hổ”), vv. Về sau, Nguyễn Phẩm chuyển sang loại vai lão văn, nhanh chóng chiếm vị trí hàng đầu, được đồng nghiệp một lần nữa khâm phục, đặc biệt trong vai vua đói. Với tài năng của mình, Nguyễn Phẩm được phong chức nhưng trưởng khi mới 18 tuổi; năm 30 tuổi được bổ nhiệm chức phó quản ca rồi chức chánh quản ca. Nguyễn Phẩm sống thanh đạm, hiến cả cuộc đời cho nền nghệ thuật tuồng chân chính, đích thực, xa lánh mọi xu hướng pha tạp, mang tính chất thương mại. Nguyễn Phẩm đóng góp nhiều công sức trong công việc sưu tầm, nghiên cứu và đào tạo thế hệ trẻ. Nghệ sĩ nhân dân (1984).

TỐNG PHƯỚC PHỔ

Tác giả Sân khấu Tống Phước Phổ: Ông sinh năm 1902 tại An Quán, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong một gia đình nhà nho, là cháu nhà viết tuồng trứ danh Nguyễn Hiển Dĩnh. Ông được cậu chọn làm thư kí riêng để ghi chép, chỉnh lý các vở tuồng. Năm 18 tuổi, ông sáng tác vở đầu tay Lâm Sanh - Xuân Hương dựa theo truyện Nôm.
Năm 1927, ông gia nhập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, viết bài cho các báo Phụ nữ tân văn, Điện tín... Năm 1930, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau khi tổ chức Đảng ở Sài Gòn bị vỡ, ông bị thực dân Pháp bắt và giam cầm 1 năm. Trong tù, ông sáng tác vở Gương liệt nữ ca ngợi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Năm 1940, cùng với nghệ nhân Nguyễn Lai và Ngô Thị Liễu, ông thành lập gánh hát Tân Thành đi trình diễn nhiều nơi. Thời gian này ông sáng tác nhiều vở, chủ yếu là tuồng tâm lí xã hội và đề tài lịch sử như Guồng tình đẫm máu, Đã không duyên kiếp, Tiếng Phật gọi hồn, Nước mắt gọi hồn... và Lâm Sanh - Xuân Nương, Lục Vân TiênPhạm Công - Cúc Hoa, Kiều Quốc Sĩ, Gương liệt nữ, Mạnh Lệ Quân...
Sau Cách mạng tháng 8, ông cùng với Võ Bá Huân đi vận động thành lập đoàn tuồng để lấy tiền ủng hộ quỹ kháng chiến. Đấy là tiền thân của Đoàn tuồng Liên khu V, nay là Nhà hát tuồng Đào Tấn(Bình Định), nơi ông hoạt động nghệ thuật trong suốt quãng đời còn lại. Ông từng là Ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn VIệt Nam.
Tống Phước Phổ là cây viết hàng đầu của sân khấu tuồng cách mạng. Ông đã viết tổng cộng gần 100 kịch bản tuồng, trong đó có hơn 20 vở tuồng đề tài cách mạng. Những vở tiêu biểu của ông như Trưng Nữ Vương, Quán Thăng Long, Hội nghị Diên Hồng, Cờ giải phóng, Hùm Yên Thế, Bùi Thị Cúc, Bốn nghìn năm họp mặt anh hùng (chuyển thể kịch thơ của Huy Cận), Đứng lên Khuông Mánh, Tam gia Phước... Ngoài ra ông còn chỉnh lý nhiều vở tuồng cổ như Sơn Hậu, Hường môn hội ẩm, Đào Phi PhụngTam nữ đồ vương, Lam Sơn khởi nghĩa, An Tư công chúa, Ngọn lửa Hồng Sơn, Trưng Vương khởi nghĩa, Rừng khuôn mảng, Sao khuê trời Việt... Nhiều học trò của ông cũng là những cây viết nổi tiếng như Nguyễn Tường Nhẫn, Nguyễn Kim Hùng, Trần Hưng Quang, Võ Sĩ Thừa...
Năm 1996, ông được trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Ông mất ngày 31 tháng 8 năm 1991 tại Đà Nẵng, thọ 89 tuổi.

NHỊP BẢY, NHỊP BA

NHỊP BẢY, NHỊP BA: thuật ngữ của các nghệ nhân chèo và tuồng, chỉ tiếng trống đánh ở một số bài hát, có bảy lần hoặc ba lần “toong” hay “chát”, mà không phải để chỉ nhịp điệu hay số nhịp ở câu hát.
Khi nói “NB, NB chẳng qua nhịp một”, là có ý nói rằng người gõ phách hoặc đánh trống dù gặp nhịp phức tạp như thế nào cũng phải giữ chắc nhịp một.
 
  ​ 
 
 
  Nguồn gốc tuồng Quảng Nam Đà Nẵng
 
Theo truyền thuyết lưu hành trong dân gian thì Tuồng Quảng Nam ra đời từ cái nôi của hai vùng Đức Giáo và Khánh Thọ (khoảng đầu thế kỷ 19). Các lão nghệ nhân ngày trước kể rằng: Ở vùng thượng lưu của sông Thu Bồn có một gánh tuồng hát rất hay tên là Mỹ Lưu. Vào mùa đông bão lụt dữ dội nọ, cơn lũ lớn ập vào làng và cuốn trôi mất chiếc trống con (trống chiến)- nhạc cụ chỉ huy của dàn nhạc tuồng xuôi về sông Cái, ra biển Cửa Đại. Khi gánh hát Mỹ Lưu dần tan rã thì vùng đất xuôi theo sông Thu Bồn lại nảy nở nghệ thuật tuồng như Đại Bình, Bàu Toa, Bảo An, Phong Thử, Hội An...Cùng với câu chuyện có tính chất huyền thoại trên thì hai cứ liệu về Tuồng xứ Quảng về gánh hát làng Đức Giáo và Khánh Thọ di cư từ Bình Trị Thiên vào xứ Quảng là tương đối thuyết phục.
  • Làng Đức Giáo từ Huế vào Quảng "vô địa lập chùy, dĩ xướng ca vi nghệ" (không mảnh đất cắm dùi, lấy xướng ca làm nghề sinh sống), lập thành làng riêng lấy tên là Khánh Đức nhưng "hữu đinh vô điền" (có dân mà không có ruộng đất), lưu diễn nhiều nơi. Vào khoảng thập niên 1920, khi gánh hát của Nhưng Giai và Nhưng Bính nổi lên thì gánh hát Khánh Đức bắt đầu suy yếu. Gánh hát này thực sự tan rã vào năm 1972 sau một trận bom của Mỹ thiêu hủy toàn bộ y trang, đạo cụ của đoàn.
  • Trong Văn tế tổ của Tuồng Quảng Nam có câu:
...Tự Minh Mạng hoàng đế hữu Việt Thường công thự, thiết lập hoàn thành
Chí Tự Đức vương triều dĩ Quảng Nam trung thanh duy cầu sở học
(Từ vua Minh Mạng xây dựng hoàn thành thự Việt Thường. Đến vua Tự Đức bảo (diễn tuồng) nên học theo giọng trung thanh của Quảng Nam)
Tiếng Huế nhẹ, tiếng Bình Định trong và sắc sảo, tiếng Quảng Nam thô nhưng rất hợp với tuồng. (Tuồng chủ yếu xuất hiện ở ba vùng đất này.)
Gánh hát Khánh Đức hình thành từ Trò Bội xứ Quảng, có thể đã bắt từ thế giữa thế kỷ 17, sau chiến thắng lớn của chúa Nguyễn năm 1648 và gắn liền với hình thức sinh hoạt vùng kinh tế nông nghiệp mới khai hoang. Từ "tuồng sân" gắn bó mật thiết với cộng đồng, tuồng phát triển thành "tuồng rạp" và dần dần trở thành một nghệ thuật hát xướng mua vui trong cung đình.

Vở tuồng cổ đầu tiên

Sơn Hậu được xem là vở tuồng cổ đầu tiên của Quảng Nam, tương truyền do Đào Duy Từ sáng tác vào giữa thế kỷ 17 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Sau này, hai ông Nhưng Đá và Nhưng Nguyên diễn vai Khương Linh Tá và Đổng Kim Lân được vua Thành Thái khen thưởng bằng nhiều lời lẽ hết sức nồng hậu.

Các gánh, đoàn tuồng xứ Quảng

  Các gánh hát đầu tiên:
  Các gánh hát bán chuyên nghiệp:
Các gánh hát chuyên nghiệp:
  • TÌM HIỂU VỀ TUỒNG

    Tuồng, tức hát bộ, còn gọi là hát bội hay luông tuồng là một loại kịch hát cổ truyền ở Việt Nam. Theo nhiều học giả, Tuồng xuất phát từ ca vũ dân tộc Việt Nam, song trong quá trình phát triển, Tuồng đã tiếp nhận nhiều trình thức biểu diễn và hóa trang của Hí Kịch Trung Quốc.